Lịch sử các hãng xe: Mitsubishi (Kỳ 1)

Mitsubishi Motors là hãng sản xuất xe hơn lớn thứ 6 của Nhật Bản và xếp thứ 17 trong số các hãng xe có doanh số cao nhất toàn cầu. Hãng là một phần của hệ thống tập đoàn Mitsubishi, một trong những tập đoàn công nghiệp lớn nhất xứ sở mặt trời mọc.

Lịch sử các hãng xe: Mitsubishi (Kỳ 1)

Mitsubishi, thành viên tiềm năng của công nghiệp xe hơi thế giới

Tập đoàn Mitsubishi được sáng lập bởi Yataro Iwasaki vào đầu thập niên 1870 với lĩnh vực ban đầu là đóng tàu. Năm 1917, hãng cho ra đời mẫu xe hơi đầu tiên: Model-A. Mẫu xe này đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển của Mitsubishi – được chính thức công nhận là một thành viên tiềm năng của ngành công nghiệp xe hơi thế giới. Đến năm 1918, Mitsubishi thành công trong việc chế tạo chiếc xe tải đầu tiên - chiếc T1 prototype, chiếc xe đã xuất sắc vượt qua cuộc thử nghiệm độ ổn định và tin cậy trải dài 1.000km.

Năm 1931, nền công nghiệp Nhật Bản chứng kiến một cuộc “tiểu cách mạng” trong ngành cơ khí khi động cơ diesel lần đầu tiên được phát triển và ứng dụng trong các phương tiện đi lại – đó chính là động cơ 450AD phun nhiên liệu trực tiếp. Chỉ một năm sau đó, Mitsubishi tiếp tục xuất xưởng chiếc xe buýt đầu tiên – chiếc B46 – to nhất và có công suất lớn nhất thời bấy giờ. Thập niên 30 được coi là thời đại vàng của Mitsubishi khi hãng lần lượt giới thiệu những ý tưởng và sản phẩm “đầu tiên” không chỉ đối với chính hãng mà còn đối với ngành công nghiệp xe hơi Nhật Bản.

Năm 1946, dưới ảnh hưởng của quân Đồng minh, hầu hết các tập đoàn công nghiệp của Nhật Bản đều bị giải thể, trong đó có cả Mitsubishi Heavy Industries – công ty mẹ của bộ phân sản xuất xe hơi Mitsubishi. Việc Mitsubishi Heavy Industries bị tách thành 3 công ty nhỏ có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động chế tạo xe hơi. Chính trong năm này, Mizushima ra đời. Đây là một chiếc xe hơi 3 bánh nhỏ, gọn, rất phù hợp cho việc đi lại gần, lại hết sức tiết kiệm nhiên liệu. Chỉ vài tháng sau đó, Silver Pigeon được chế tạo dựa trên nguyên tắc thiết thực và tiết kiệm nhiên liệu, cũng xuất xưởng. Có thể nói, chính chiếc xe này đã tạo nên cơn sốt phương tiện đi lại cá nhân tại Nhật Bản.

Thời gian này, với những hậu quả do chiến tranh để lại, nhu cầu về xe thương mại ở Nhật tăng cao, nhưng nhiên liệu vẫn là một bài toán nan giải. Chiếc xe buýt B1 của Mitsubishi thực sự là nền tảng lý tưởng cho xe cứu hoả và các xe chuyên dụng khác. Năm 1947, Mitsubishi tiếp tục trình làng chiếc xe buýt động cơ điện MB46 và chiếc R1 – xe buýt có động cơ đặt sau đầu tiên của Nhật Bản.

Từ những chiếc xe gia đình...

Đầu thập niên 1960, nền kinh tế Nhật Bản phát triển mạnh mẽ, đời sống của người dân được cải thiện dần và việc sở hữu phương tiện cá nhân cũng trở thành một nhu cầu tất yếu. Ước mơ được sở hữu một chiếc xe cho cả gia đình đã trở thành hiện thực với Mitsubishi 500 - mẫu xe không chỉ khẳng định vị trí của Mitsubishi trong lòng người tiêu dùng trong nước mà còn được nồng nhiệt chào đón tại Macau Grand Prix.

Năm 1962, Mitsubishi giới thiệu Minica - chiếc compact 4 chỗ siêu nhỏ động cơ xăng 2 kỳ, 359cc không chỉ giúp người tiêu dùng tiết kiệm dược một khoảng thuế kha khá mà còn rất tiết kiệm nhiên liệu và hoạt động hết sức bền bỉ. Năm 1969, chiếc Colt Galant với thiết kế khí động học và động cơ Saturn SOHC giúp Mitsubishi một lần nữa được ngẩng cao đầu với hàng loạt những giải thưởng do người tiêu dùng bình chọn. Bên cạnh nhưng thành công này, Mitsubishi cũng không quên nghiên cứu chế tạo xe thương mại, điển hình là chiếc xe buýt Rosa hay xe tải Canter.

Đến cuối thập niên 1960, hoạt động bộ phận nghiên cứu và chế tạo xe hơi đã đạt đến đỉnh cao và đây là lý do khiến cho các nhà lãnh đạo của Mitsubishi Heavy Industries không thể chần chừ trong việc tách bộ phân này thành một công ty độc lập.

(Còn tiếp)

Lịch sử các hãng xe: Toyota (Kỳ 3)

Thành công của Toyota – hãng xe lớn nhất Nhật Bản - bắt nguồn từ chính tài năng kinh doanh thiên bẩm cũng như màu sắc văn hóa truyền thống của người dân đất nước Mặt trời mọc.

Lịch sử các hãng xe: Toyota (Kỳ 3)

Hợp nhất và tiến ra thế giới

Tháng 7/1982, Toyota Motors Sales Co.., Ltd. Và Toyota Motor Co.., Ltd.. Chính thức sáp nhập lại sau 32 năm phát triển độc lập để trở thành tập đoàn Toyota. Giai đoạn hậu chiến đã đi qua, vì thế mục tiêu chủ chốt của toyota đặt ra lúc này là quốc tế hoá ngay càng cao. Ngay trước khi Toyota Motors và Toyota Motor Company sáp nhập. Toyota đã thực hiện các cuộc đàm phán để có mối quan hệ hợp tác kinh doanh với General Motors, như là một phần trong chiến lược hợp tác của Toyota với nghành công nghiệp xe hơi Mỹ. 1984, United Motor Manufacturing, Inc. (NUMMI) đã được thành lập để bắt đầu hợp tác sản xuất các mẫu xe nhỏ tại nhà máy của General Motors tại Fremont, California. Việc sản xuất được tiến hành từ tháng 12 cùng năm đó. Năm 1986 Toyota thành lập Toyota Motor Manufacturing U.S.A.., Inc. tại Kentucky và bắt đầu sản xuất vào năm 1988.

Thương hiệu xe sang của Toyota, Lexus được giới thiệu thị trường Mỹ vào năm 1989. Thông qua nghiên cứu thị trường và lập kế hoạch sản phẩm một cách kỹ lưỡng cùng với một chiến lược kinh doanh chặt chẽ là những nhân tố giúp thương hiệu Lexus đạt được những thành công lớn và củng cố vững chắc vị thế của hãng tại thị trường Mỹ.

Nửa cuối thập niên 80 và thập niên 90 là gia đoạn đánh dấu sự phát triển và mở rông mạnh mẽ ra thế giới của Toyota tại Châu Âu. Hãng công bố các kế hoạch xây dựng cơ sở sản xuất mới tại Anh vào năm 1989 và bắt đầu sản xuất từ năm 1992. Cơ sở này được mở rộng một nhà máy sản xuất động cơ và một nhà máy sản xuất xe hơi thứ hai. Cũng năm 1992 toyota bắt đầu các nhà máy sản xuất xe xe hơi tại Pháp và sản xuất các mẫu xe nhỏ Yaris vào năm 2001.

Việc mở rộng thị trường tiếp tục lan rông khi bức tường Berlin sụp đổ mở đường cho nên kinh tế thị trường phát triển tại các nước cộng sản trước đây, bắt đầu tại Trung Quốc và các nước Đông Âu. Toyota đã thành lập một liên doanh với PSA Peuguot Citron và bắt đầu sản xuất các mẫu xe cỡ nhỏ đưa ra thị trường Châu Âu vào năm 2005, dưới tên 3 thương hiệu là Peugeot, Citronen và Toyota.

Tuy nhiên tại Nhật Bản mọi thứ không như mong muốn. Kể từ năm 1992 nền kinh tế Nhật bị đình trệ và suy thoái tới mức được gọi là  “thập kỷ mát”. Toyota cũng ảnh hưởng không nhỏ. Đây được coi là giai đoạn thành lập lần 2 khi Toyota tiến hành những cải tổ  căn bản cũng như cơ cấu lại toàn bộ bộ máy nhân sự và tổ chức.

Nhằm đối phó với các vấn đề môi trường mẫu xe Hybrid Prius đã được thị trường đón nhận nhiệt tình khi ra mắt vào năm 1997. Thành quả này của toyota cũng khiến cả thế giới phải ngưỡng mộ. Với mục tiêu đưa công nghệ Hybrid như một chiếc cầu nối hướng tới sự phát triển các mẫu xe thân thiện với môi trường, Toyota sẽ tiếp tục cải tiến công nghệ và tạo ra nhiều mẫu xe Hybrid hơn để phổ biến đến tất cả người tiêu dùng.

Từ khi thành lập đến nay triết lý của Toyota luôn là phục vụ cao nhất cho lợi ích xã hội và đóng góp nhiều hơn cho xã hội thông qua sản xuất xe hơi. Để đạt được những mục tiêu này toyota luôn ưu tiên tìm hiểu nền văn hoá bản địa của khách hàng để từ đó phát triển công nghệ bằng cách tập trung sáng tạo và luôn đổi mới để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Cũng với phương châm: Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội và nâng tầm chất lượng cuộc sống của người dân bằng việc tạo ra chiếc xe an toàn và tin cậy. Luôn tôn trọng đề cao khách hàng và tất cả các đối tượng khác, tất cả các thành viên Toyota cùng nhau đồng tâm hiệp lực và lỗ lực hơn nữa để tạo ra những chiếc xe tốt nhất.

Lịch sử các hãng xe: Toyota (Kỳ 2)

Thành công của Toyota – hãng xe lớn nhất Nhật Bản - bắt nguồn từ chính tài năng kinh doanh thiên bẩm cũng như màu sắc văn hóa truyền thống của người dân đất nước Mặt trời mọc.

Lịch sử các hãng xe: Toyota (Kỳ 2)

Vươn ra thế giới

Tháng 6/1950 cuộc chính tranh Triều Tiên nổ ra nhu cầu mua hành hoá phục vụ chiến trang càng lớn. Toyota nhận được rất nhiều đơn đặt hàng sản xuất các loại xe tải giúp sản lượng sản xuất của Toyota tại thời điểm đó đạt mức cao kỷ lục. Tất cả lợi nhuận được dùng để tái đầu tư vào trang thiết bị và củng cố hệ thống sản xuất. Nhờ đó Toyota dần vượt qua khủng hoảng và bắt đầu phát triển mạnh mẽ.

Tháng 3/1952 nhà sáng lập Toyota, Kiichiro Toyoda đột ngột qua đời, và các thành viên chủ chốt còn lại của Toyota tiếp tục thực hiện ước mơ ấp ủ từ lâu của ông về việc phát triển trên quy mô lớn mẫu xe con sản xuất trong nước. Mẫu xe Crown là ra đời 1955 đã hiện thực hoá giấc mơ này. Crown là mẫu xe đã mang lạ thành công vang dội cho Toyota. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của mẫu xe này, toyota đã lập kế hoạch xây dựng nhà máy Motomachi – đây là nhà máy đầu tiên bên ngoài lãnh thổ nước Nhật được xây dựng cho mục đích sản xuất xe con. Nhà máy được hoàn thành vào năm 1959 và đóng góp lớn vào sự phát triển của Toyota về sau.

Năm 1964 đánh dấu việc sản xuất thế hệ thứ 4 của mẫu xe Corona (RT40) đây là mẫu xe có doanh số vượt xa so với Datsun Bluebird của Nissan để chở thành mẫu xe bán chạy nhất tại Nhật. Nhờ có Corona mà hãng đã gia tăng đáng kể việc sản xuất mẫu xe này sang thị trường các nước Châu Âu. Bên cạnh đó nhằm tập trung tăng cường hệ thống sản xuất và nâng cao quản lý chất lượng, Toyota đã đưa ra hệ thống Quản Lý Chất Lượng Toàn Diện (TQC) vào năm 1961.

Năm 1966 đánh dấu thời kỳ xã hội hoá xe hơi tại Nhật Bản. Corolla được giới thiệu trên thị trường và được đánh giá là một bước nhảy dài đối với việc sản xuất và phục vụ nhu cầu xe dành cho đối tượng khách hàng là người dân phổ thông. Bên cạnh đó nhà máy mới Takaoka với năng lực sản xuất 20.000 xe/tháng được xây dựng nhằm phục vụ cho việc sản xuất mẫu xe Corrola này. Ngay khi mẫu xe Corolla được ra mắt vào tháng 11/1966 chỉ trong 06 tháng doanh số bán của mẫu này đã vượt qua đối thủ Datsun Sunny và trở thành mẫu xe bán chạy hàng đầu tại Nhật Bản trong 33 năm liên tiếp từ 1969 – 2001.

Cũng trong năm 1966 thế hệ thứ 3 của mẫu xe Corona đã được xuất sang thị trường Mỹ. Trong khi Land Cruiser đã được đón nhận rộng rãi tại các thị trường nước ngoài thì Corona là mẫu xe con đầu tiên của toyota được cả thế giới công nhận. Ngoài ra, Toyota thiết lập quan hệ hợp tác với Hino Motors năm 1966 với Daihatsu năm 1967.

Năm 1963, giải Grand Prix lần đầu tiên được tổ chức tại Nhật Bản diễn ra quanh khu vực Suzuka đã kích thích sự quan tâm của công chúng đối với môn xe đua thể thao. Để đáp ứng nhu cầu gia tăng về các mẫu xe hiệu xuất cac này. Toyota đã hợp tác với Yamaha để phát triển mẫu xe 200GT và đưa ra thị trường năm 1967.

Những năm 70 là thời kỳ phát triển đỉnh cao của Toyota. Năng lực sản xuất và doanh số đều gia tăng mạnh mẽ. Tuy nhiên cuộc khủng hoảng dầu vào mùa thu năm 1973 đã đột ngột kìm hãm sự tăng trưởng của Toyota. Cũng trong gia đoạn này nghành công nghiệp xe hơi phải đối mặt với các quy định khắt khe nhất thế giới của chính phủ Nhật về khi thải. Chính vì vậy để đạt được mục tiêu về khí thải các kỹ sư của hãng đã phải nghiên cứu mọi khả năng có thể và cuối cùng đã thành công khi tìm ra giải pháp dựa trên hệ thống xúc tác 3 chiều. Chính những kiến thức được tích luỹ trong suốt thời gian này đã mang đến những cải tiến đáng kể về hiệu xuất động cơ và tích kiệm nhiên liệu, đặt nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ của Toyota tại thị trường Mỹ. Và mặc dù cuộc khủng hoảng dầu ảnh hưởng vô cùng to lớn tới việc kinh doanh của các công ty xe hơi khác, nhưng toyota vẫn phục hồi nhanh chóng. Chính vì điều này đã làm thế giới bắt đầu thực sự quan tâm đến hệ thống sản xuất của Toyota (TPS).

Toyota vươn ra thế giới sau khi trãi qua 2 cuộc khủng hoảng dầu thì những cụm từ được quan tâm nhất trên thị trường xe hơi thế giới là tích kiệm năng lượng và tích kiệm nhiên liệu, do đó du cầu khách hàng chuyển sang xu hướng sử dụng các mẫu xe nhỏ gọn. Điều này đã ảnh hưởng vô cùng lớn tới 3 hãng sản xuất xe hơi lớn nhất tại Mỹ khi tập chung chủ yếu vào sản xuất các mẫu xe lớn. Doanh số sụt giảm mạnh mẽ và cả 3 công ty đều rơi vào cảnh nợ nần. Trong khi đó nhu cầu xe Nhật nhỏ gọn tích kiệm nhiên liệu tăng cao và được xuất khẩu mạnh mẽ sang Mỹ.

(Còn tiếp)

Lịch sử các hãng xe: Toyota (Kỳ 1)

Thành công của Toyota – hãng xe lớn nhất Nhật Bản - bắt nguồn từ chính tài năng kinh doanh thiên bẩm cũng như màu sắc văn hóa truyền thống của người dân đất nước Mặt trời mọc.

Lịch sử các hãng xe: Toyota (Kỳ 1)

Lịch sử hình thành

Năm 1890, Sakachi đã cải tiến chiếc máy dệt thủ công bằng gỗ và đã nhận được bằng sáng chế phát minh đầu tiên. Tiếp sau đó, ông chế tạo thành công chiếc máy dệt động lực khổ hẹp chạy bằng hơi nước đầu tiên năm 1896. Vô cùng ấn tượng với phát minh của Sakachi, Công ty Platt Brothers & Co., Ltd của Anh, nhà sản xuất máy dệt và máy xe sợi hàng đầu của thế giới, đã đề nghị mua lại bản quyền của ông. Chính số tiền này đã giúp con trai ông, Kiichiro Toyoda, có thể trang trải chi phí trong việc nghiên cứu và chuẩn bị sẵn sàng tiến vào nghành công nghiệp xe hơi.

Có thể nói, khời nguồn của Tập đoàn xe hơi Toyota ngày nay chính là chiếc máy dệt động lực và chiếc máy dệt tự động do ông tổ Sakachi Toyoda phát minh ra.

Sự gia nhập vào nghành công nghiệp xe hơi của Công ty Toyoda Automatic Loom Works chuyên sản xuất máy dệt tự động (nay là tập đoàn Toyota) đã chính thức bắt đầu với sự thành lập một trung tâm sản xuất xe hơi vào tháng 9 năm 1933 dưới sự lãnh đạo của con trai sáng lập viên công ty là Kiichiro Toyoda.

Tháng 9/1934 công ty đã sản xuất thành công động cơ xe hơi kiểu A đầu tiên. Tháng 5 năm 1935 động cơ này được sử dụng cho loại xe khách “Model A1” đầu tiên. Trong khi đó, General Motors và Ford đã thống lĩnh thị trường xe hơi, gây lên những quan ngại cho Bộ Công Thương Nhật Bản. Kết quả là chính phủ Nhật đã ban hành Luật sản xuất xe hơi yêu cầu các công ty phải công bố sản lượng sản xuất thực tế để có thể được cấp phép sản xuất theo đạo luật này. Chính vì lý do này. Kiichiro đã xúc tiến nhanh việc sản xuất hàng loạt đối với mẫu xe tải..

Tháng 8 năm 1935, mẫu xe tải G1 được sản xuất thành công và bắt đầu được giới thiệu trên thị trường vào tháng 11. Tháng 05/1936, mẫu sedan AA sau nhiều năm kỳ công nghiên cứu cũng được hoàn thành. Và để quảng bá rộng rãi trên các mẫu xe thương hiệu Toyoda, một cuộc thi sáng tác logo cho cty đã được tổ chức dựa trên tiêu chí dễ hiểu, gợi tả đó là một cty trong nước và chứa đựng âm tiết Nhật Bản. Trong số hàng nghìn mẫu biểu tượng được gửi về , có một biểu tượng mang tên “Toyota” với hình tròn bao quanh. Kể từ tháng 10 năm 1936, thương hiệu “Toyoda” được chuyển thành “Toyota”.

Ngày 28/08/1937, Công ty Toyoda Automatic Loom Words chuyển thành Công ty xe hơi Toyota (sau này trở thành Tập đoàn xe hơi Toyota). Một năm sau đó nhà máy Koromo (nay là nhà máy Honsha) đã được đưa vào hoạt động với phương châm sản xuất “Just in time” (Nghĩa là sản xuất đúng sản phẩm với đúng số lượng tại đúng nơi và đúng thời điểm). Năm 1938 việc sản xuất các mẫu xe con bị hạn chế vì phải ưu tiên sản xuất phục vụ mục đích quân sự trong thời chiến tranh.

Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II, sự bất ổn vẫn tiếp diễn và các chính sách kiềm chế lạm phát của chính phủ đã tác động trực tiếp tới các doanh nghiệp. Thời điểm này Toyota cũng như nhiều doanh nghiệp khác phải gồng mình để vượt qua khủng hoảng tài chính. Để tái cấu trúc lại công ty, năm 1950, Toyota buộc phải tách riêng phòng bán hàng (sau thành lập công ty bán lẻ Toyota Motor Sales Co..Ltd.

Lịch sử các hãng xe: Audi (Kỳ 3)

Có thể ít nổi tiếng hơn, nhưng bên cạnh biểu tượng của BMW và Mercedes-Benz, logo Audi với 4 vòng tròn đan vào nhau cũng là dấu hiệu chứng tỏ sự sang trọng và chất lượng hàng đầu mà bất cứ chủ xe nào cũng muốn có.

Lịch sử các hãng xe: Audi (Kỳ 3)

Năm 1985, công ty đổi tên thành Audi AG và trụ sở chính được chuyển về Ingolstadt như ngày nay.

Sự ra đời và phát triển của thương hiệu Audi AG

Nền công nghiệp ô tô được phục hồi vào cuối năm 1975, có thể thấy được sự phát triển đó qua doanh số của các mẫu Audi. Chiếc NSU Ro 80 cuối cùng rời dây chuyền lắp ráp vào tháng 03.1977, mốc thời gian này cũng đánh dấu sự biến mất của thương hiệu NSU, một thương hiệu có lịch sử hơn 100 năm. Kể từ năm này, tất cả ô tô được sản xuất tại Neckarsulm đều mang thương hiệu Audi.

Năm 1980, Audi khuấy động thị trường khi giới thiệu mẫu Audi Quattro tại triển lãm Geneva Motor Show, mẫu xe thương mại đầu tiên sử dụng hệ thống dẫn động 4 bánh. Các hoạt động đua xe Rally càng góp phần làm nổi bật mẫu Concept Quattro của Audi.

Năm 1981, Michele Mouton – người phụ nữ Pháp đầu tiên trên thế giới đoạt giải vô địch đua xe Rally. Tiếp theo thành công rực rỡ đó, vào năm 1982, Audi trở thành hãng xe Đức đầu tiên giành chiến thắng tại cuộc thi Manufacturers World Championship và tiếp tục giành chiến thắng vào năm 1984.

Ngày 1/1/1985, Audi NSU Auto union chính thức đổi tên thành Audi AG. Trụ sở chính thức của hãng cũng nhanh chóng được chuyển từ Neckarsulm về Ingolstadt. Năm 1985, tổng số vốn đầu tư của Audi AG tăng lên 1 tỷ mác Đức, mức cao nhất trong lịch sử của hãng. Các tiêu chuẩn liên quan đến sản phẩm và phát triển công nghệ kỹ thuật mới là những mục tiêu trọng tâm để đầu tư.

Mùa thu năm 1986, chiếc Audi 80 với thân xe mạ kẽm được tung ra thị trường. Nó được bảo hành đến 10 năm không rỉ sét, qua đó thiết lập những tiêu chuẩn mới trong dòng xe này. Audi 80 tiếp tục được phát triển với các phiên bản Audi 80 B1, Audi 80 B2, Audi 80 B3 và Audi 80 B4.

Năm 1988 chứng kiến sự xuất hiện của chiếc V8, mẫu xe hạng sang đầu tiên của Audi với động cơ V8 dung tích 3.6L loại 4 van và bản 4.2L, sử dụng cam đôi (DOHC) loại 32 van, hộp số tự động 4 cấp.

Đầu những năm 1990, thị trường thế giới đang trong thời kỳ suy yếu nhưng sự kiện lịch sử về việc Bức tường Berlin bị sụp đổ dẫn đến việc thống nhất nước Đức và đồng tiền chung của Đức được lưu hành đã tạo ra làn sóng cung cầu tăng cao ở thị trường trong nước. Doanh số bán hàng tăng nhanh giúp Audi đạt được doanh thu kỷ lục ở mức 14.8 tỉ mác Đức vào năm 1991.

Audi báo trước thời kỳ phát triển mới bằng việc giới thiệu mẫu xe sử dụng vật liệu nhôm Audi Spaceframe (ASF) tại triển lãm ô tô Tokyo vào mùa thu năm 1993. Mẫu Audi này được chính thức giới thiệu lần đầu vào tháng 3/1994 với tư cách là kẻ kế vị của Audi V8. Mẫu xe mới có tên là A8, đánh dấu sự thay đổi lớn của Audi trong việc đặt tên các mẫu xe của hãng.

Mùa thu năm 1995, Audi nối tiếp sự thành công của mình bằng việc ra mắt mẫu Concept thể thao Audi TT Coupé và Audi TT Roadster. Mẫu TT Coupé và TT Roadster thương mại chính thức được bán ra thị trường vào năm 1998 và 1999.

Một năm sau 1996, Audi giới thiệu chiếc A3, một mẫu xe cỡ nhỏ 3 cửa hatchback, với mục tiêu thu hút thêm đối tượng khách hàng mới. Mẫu Audi A3 được phát triển qua 2 thế hệ; Thế hệ thứ nhất từ năm 1996-2003. Thế hệ thứ 2 được phát triển từ năm 2003 đến hiện tại 2013 gồm các phiên bản; 3 cửa hatchback (năm 2003), 5 cửa hatchback (năm 2004) và bản 2 cửa cabriolet (năm 2008).

Năm 2000, doanh số của Audi đạt 650.000 chiếc và lợi nhuận đạt 39 tỉ mác Đức.

Trải qua 84 năm thăng trầm,hiện nay Audi vẫn là một trong những hiệu xe sang trọng hàng đầu thế giới nhờ những sản phẩm chất lượng và công nghệ,bên cạnh đó thiết kế đẹp mê hồn,cuốn hút khách hàng trên toàn thế giới.

Lịch sử các hãng xe: Audi (Kỳ 2)

Có thể ít nổi tiếng hơn, nhưng bên cạnh biểu tượng của BMW và Mercedes-Benz, logo Audi với 4 vòng tròn đan vào nhau cũng là dấu hiệu chứng tỏ sự sang trọng và chất lượng hàng đầu mà bất cứ chủ xe nào cũng muốn có.

Lịch sử các hãng xe: Audi (Kỳ 2)

Ở kỳ trước, chúng ta đã nói đển tiền thân của Audi: Auto Union AG. Sau Thế chiến thứ 2, nhà máy sản xuất của Auto Union AG tại Saxony bị sung công và tháo dỡ bởi quân đội Xô Viết. Một số Giám đốc cấp cao của công ty chuyển đến Bavaria và thành lập công ty mới năm vào 1949 với tên gọi Auto Union GmbH và tiếp tục công việc sản xuất ô tô với logo là 4 vòng tròn đan xen vào nhau.

Auto Union GmbH và NSU sát nhập vào năm 1969 để thành lập Audi NSU Auto Union AG.

Audi NSU Auto Union AG

Tháng 6/1958, việc xây dựng nhà máy mới tại Ettinger Strasse, Ingolstadt cuối cùng cũng được khởi công. Số tiền đầu tư vào nhà máy này là 76 triệu mác Đức trong năm 1959 và thêm 51 triệu mác Đức nữa trong năm 1960 và nó được xem là nhà máy sản xuất ô tô hiện đại nhất châu Âu.

Năm 1962, Auto Union GmbH phải đương đầu với tình hình tài chính khó khăn. Dainler-Benz AG nhận thấy giải pháp tốt nhất để giải quyết vấn đề này là bán Auto Union GmbH cho Volkswagen. Chủ sỡ hữu mới của Auto Union GmbH đã phải trả khoản tiền lên đến 297 triệu mác Đức cho thương vụ này và đến năm 1966, Volkswagen đã toàn quyền sở hữu Auto Union GmbH.

Được Vokswagen mua lại nên Auto Union GmbH đã thoát khỏi phá sản. Kỷ nguyên của động cơ 2 kỳ vốn rất phổ biến trước đây đã chấm dứt và gần 30.000 chiếc ô tô của DKW chưa bán được phải đem “bán sắt vụn”.

Chiếc Beetle của Volkswagen đã cứu Auto Union GmbH, khi chỉ từ tháng 5/1965 đến tháng 6/1969, gần 348.000 chiếc Beetle đã được lắp ráp tại Ingolstadt.

Vào tháng 8/1965, hãng bắt đầu cho ra mắt chiếc “Audi” mới. Mẫu xe này là mẫu đầu tiên sử dụng động cơ 4 kỳ được sản xuất tại Ingolstadt. Nó nhanh chóng trở nên phổ biến và đặt nền tảng cho sự thành công của những mẫu xe sau này.

Tuy nhiên, sự hồi phục này cũng không kéo dài được lâu. Sau hơn 15 năm phát triển liên tục, nền kinh tế Đức bất ngờ rơi vào khủng hoảng từ năm 1966-1967 và ảnh hưởng nghiêm trọng đến Audi. Công ty phải cắt giảm tối đa việc sản xuất và tình trạng không có việc làm là điều tất yếu không thể tránh khỏi.

Ngày 10/3/1969, Auto Union GmbH đồng ý thỏa thuận sáp nhập với NSU Motorenwerke AG. Sự kiện này dẫn đến sự ra đời của công ty mới với tên Audi NSU Union AG.

Công ty này có trụ sở chính tại Neckarsulm và doanh số của Audi và NSU tăng liên tục cho đến năm 1973 khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ nổi lên. Năm 1974, sự suy giảm của nền kinh tế thế giới đã khiến công ty phải giảm lượng xe sản xuất xuống còn 330.000 chiếc, so với sản lượng 400.000 chiếc vào năm 1973.

Cuộc khủng hoảng này cũng khiến cho hãng phải cắt giảm nhân công. Năm 1974, tổng số lượng lao động của hãng giảm từ 33.800 xuống còn 28.600 người và trong năm 1975 đã có 1.700 người mất việc chỉ riêng tại nhà máy ở Ingolstadt.

(Còn tiếp)

Lịch sử các hãng xe: Audi (Kỳ 1)

Có thể ít nổi tiếng hơn, nhưng bên cạnh biểu tượng của BMW và Mercedes-Benz, logo Audi với 4 vòng tròn đan vào nhau cũng là dấu hiệu chứng tỏ sự sang trọng và chất lượng hàng đầu mà bất cứ chủ xe nào cũng muốn có.

Lịch sử các hãng xe: Audi (Kỳ 1)

Audi AG có tiền thân từ Auto Union AG. Sau Thế chiến thứ 2, nhà máy sản xuất của Auto Union AG tại Saxony bị sung công và tháo dỡ bởi quân đội Xô Viết. Một số Giám đốc cấp cao của công ty chuyển đến Bavaria và thành lập công ty mới năm vào 1949 với tên gọi Auto Union GmbH và tiếp tục công việc sản xuất ô tô với logo là 4 vòng tròn đan xen vào nhau.

Auto Union AG

Auto Union AG được hình thành từ việc sát nhập 4 công ty khác vào năm 1932, bao gồm; Horch & Cie (thành lập năm 1899), Audi (thành lập năm 1909), DKW (thành lập năm 1904) và Wanderer (thành lập năm 1896). Auto Union AG trở thành hãng sản xuất ô tô lớn thứ 2 trên thế giới tại thời điểm đó.

Auto Union AG đạt được sự tăng trưởng nhanh chóng trong nhưng năm 1933-1939, doanh thu hàng năm tăng từ 65 lên 276 triệu mác Đức và số lượng công nhân tăng từ 8.000 lên hơn 23.000 người. Sản lượng xe mô tô hàng năm tăng từ 12.000 lên 59.000 chiếc và ô tô từ 17.000 lên 67.000 chiếc. So với năm mà Auto Union AG được thành lập, sản lượng ô tô của Horch đã tăng gấp đôi trong năm 1938, Wanderer tăng 5 lần và tổng sản lượng ô tô của DKW tăng 10 lần.

Sự bùng nổ của Thế chiến thứ II đặt dấu chấm hết cho sự phát triển này. Auto Union AG sản xuất những chiếc xe cuối cùng vào năm 1940. Từ đó trở đi, hãng bị buộc phải tập trung công việc sản xuất để phục vụ chiến tranh.

Auto Union AG tồn tại được 16 năm. Trong 3 năm cuối cùng của mình, Auto Union AG chỉ chờ đợi việc phá sản do 6 năm trước đó chiến tranh đã khiến mọi hoạt động sản xuất của công ty bị tê liệt hoàn toàn.

Sau chiến tranh, các cơ sở sản xuất của Auto Union AG bị sung công và phá hủy do sự chiếm đóng của quân đội Xô Viết. Năm 1948, Auto Union AG bị xóa tên khỏi sổ đăng ký kinh doanh tại thành phố Chemnitz.

Auto Union GmbH - NSU

Một công ty mới với tên gọi Auto Union GmbH được thành lập vào ngày 3/9/1949 tại Ingolstadt để nối tiếp truyền thống sản xuất của Auto Union AG. Đây chính là tiền thân của Audi AG sau này.

Với trụ sở được đặt tại Tây Đức, mục đích chính của công ty là duy trì truyền thống sản xuất mà công ty Auto Aunion AG đã lập nên tại Saxony.

Cuộc sống tại thời điểm tái thành lập này rất khó khăn nên những mẫu xe có tính kinh tế cao là sự lựa chọn hàng đầu. Trong những năm đầu, những mẫu xe duy nhất được sản xuất tại Ingolstadt với logo 4 vòng tròn là những chiếc ô tô và mô tô của DKW sử dụng động cơ 2 kỳ.

Ngày 24/4/1958, Daimler-Benz mua khoảng 88% cổ phần của Auto Union GmbH với giá 41 triệu mác Đức. Một năm sau, số cổ phần còn lại cũng được bán cho Daimler-Benz.. Với việc mua lại Auto Union GmbH, một công ty có lợi nhuận hàng năm khoảng 400 triệu mác Đức và hơn 10.000 công nhân, tập đoàn Daimler-Benz một lần nữa trở thành hãng sản xuất ô tô lớn nhất của Công hòa liên bang Đức về phương diện lợi nhuận hàng năm.

Để tăng hiệu quả cạnh tranh, hãng đã sản xuất lại những mẫu xe hiện đại giá rẻ từng được phát triển vào giữa những năm 1950 và được tung ra thị trường dưới tên DKW Junior. Dây chuyền sản xuất đã không đáp ứng đủ doanh số. Do đó, nhà máy mới nhanh chóng được xây dựng và địa điểm được chọn một là ở Ingolstadt hoặc Zons, gần Dusseldorf.

(Còn tiếp)

Lịch sử các hãng xe: Ferrari (Kỳ 3)

Ngày nay, Ferrari là công ty con của tập đoàn FIAT, có trụ sở chính tại Maranello. Những chiếc xe mang thương hiệu Ferrari được xem như là một biểu tượng của tốc độ, sự sang trọng và giàu có.

Lịch sử các hãng xe: Ferrari (Kỳ 3)

Lịch sử phát triển

Năm 1969, khó khăn trong việc phân hạng các giải đua, cũng như các vấn đề về tiêu chuẩn khí thải, quy định mới về độ an toàn trong việc phát triển và sản xuất xe nên Enzo Ferrari đã bán 50% cổ phần công ty cho FIAT nhưng ông vẫn nắm quyền điều hành 100% trong các hoạt động đua xe. FIAT sẽ trả cho ông một khoản tiền trợ cấp khá lớn cho đến khi ông qua đời nếu được quyền sử dụng nhà máy sản xuất ở Maranello và Modena. Ferrari trước đó đã tạo cho Ford cơ hội để mua Ferrari vào năm 1963 với giá 18 triệu USD nhưng cuộc đàm phán đã diễn ra quá muộn…

Enzo Ferrari đã rời khỏi đội đua khi ông nhận ra rằng không thể duy trì đội đua độc lập với hoạt động của công ty. Enzo Ferrari đã trở thành một cổ đông. Năm 1988, cổ phần của FIAT đã tăng lên 90%.

Năm 1971, Ferrari đã thôi chức giám đốc điều hành bộ phận sản xuất xe ở công ty. Vào năm 1974, Ferrari đề cử Luca Cordero di Montezemolo làm quản lý đội đua Công thức 1 (hiện tại Montezemolo đang là chủ tịch của hãng Ferrari S.p.A.). Tay đua Niki Lauda đã giành chức vô địch trong năm 1975 và 1977. Sau những thành công và danh hiệu đạt được từ thành tích của tay đua Jody Scheckter vào năm 1979, thì hy vọng một lần được vô địch ở giải Công thức 1 của đội đua Ferrari đã trở nên tuyệt vọng và ảm đạm hơn bao giờ hết.

Năm 1982, mở ra một tương lai tương sáng hơn với chiếc 126 C2 đầy mạnh mẽ, trang bị động cơ V6 tăng áp, phun nhiên liệu trực tiếp, dung tích 1.5L cho công suất 580 mã lực ở 11.000 vòng/phút, truyền động qua hộp số tay 6 cấp. Mẫu 126 C2 này cũng đã được nâng cấp toàn bộ từ cấu trúc khung gầm, đến bộ tăng áp dựa trên kinh nghiệm từ các phiên bản trước và quan trọng hơn nó còn được điều khiển bởi tay đua đẳng cấp thế giới; Gilles Villeneuve (lái chính) và Didier Pironi (lái phụ).

Mọi thứ đã được chuẩn bị hoàn tất để chờ đợi kết quả đầy hứa hẹn trong các cuộc đua sắp tới. Tuy nhiên, chuyện không may đã xảy ra với đội đua Ferrari, tay đua Villeneuve đã chết trong một tai nạn khủng khiếp ở vòng loại tiếp theo tại Bỉ. Sau đó, Pironi trở thành tay lái chính và cũng suýt chết trong một tai nạn tương tự trên đường đua ở Đức. Pironi đã được cứu sống sau tai nạn nhưng bị chấn thương ở cả hai chân và ông không bao giờ trở lại thi đấu với giải Công thức 1 được nữa. Tai nạn đó đã làm chấm dứt sự nghiệp đua xe của Didier Pironi.

Enzo Ferrari vẫn sát cánh cùng đội đua Scuderia Ferrari cho đến khi ông qua đời. Enzo Ferrari mất vào ngày 14.08.1988 tại Maranello ở tuổi 90. Trước khi qua đời, ông đã được chứng kiến sự ra mắt của mẫu Ferrari F40, một trong những siêu xe nổi tiếng nhất của Ferrari thời điểm đó. Ông là người đã phê duyệt cho F40 đi vào sản xuất.

Sau sự ra đi của Enzo Ferrari, nhà lãnh đạo lâu năm Luca di Montezemolo đảm nhiệm vị trí Chủ tịch. Dưới sự dẫn dắt của ông, Ferrari đã được chuyển đổi thành một thương hiệu xe sang nổi danh thế giới.

Từ năm 2002-2004, Ferrari tập trung sản xuất mẫu Enzo, siêu xe nhanh nhất của Ferrari trong thời gian này. Enzo Ferrari được đặt theo tên của nhà sáng lập hãng Ferrari; ông Enzo Ferrari (Mặc dù nó được gọi là F60, thế hệ tiếp theo của F40 và F50 nhưng Ferrari cảm thấy rất hài lòng và họ đã đồng ý đặt cho nó với tên mới là Enzo Ferrari).

Sau thương vụ IPO, Ferrari đã thành công trong việc chuyển đổi từ một công ty khởi nghiệp về xe đua thành một thương hiệu toàn cầu với giá trị lên đến gần 10 tỷ USD.

Lịch sử các hãng xe: Ferrari (Kỳ 2)

Trong suốt lịch sử phát triển, Ferrari đã gắn liền với các cuộc đua, đặc biệt là ở đường đua Công thức 1 (Formula 1).

Lịch sử các hãng xe: Ferrari (Kỳ 2)

Cái tên Scuderia Ferrari của hãng lúc ban đầu giờ đây được dùng để đặt tên cho đội đua nổi tiếng trong F1; Scuderia Ferrari Marlboro.

Lịch sử phát triển

Trong suốt Thế chiến II, công ty bị buộc phải sản xuất phục vụ chiến tranh cho chế độ phát xít của Benito Mussolini. Năm 1943, Enzo Ferrari đã chuyển công ty từ Modena đến Maranello (trụ sở chính của Ferrari ngày nay). Nhà máy bị quân Đồng minh đánh bom vào năm 1944 và được xây dựng lại vào năm 1946. Khi Chiến tranh thế giới II kết thúc, Ferrari mới có thể bắt đầu lại để sản xuất những chiếc xe đầu tiên và thành lập nên hãng Ferrari S.p.A. vào năm 1947.

Mẫu xe đầu tiên được sản xuất vào năm 1947 của Ferrari là 125 S, được lắp động cơ V12, dung tích 1.5L. Ông bất đắc dĩ lắm mới sản xuất và bán những chiếc xe này vì để lấy tiền tài trợ cho đội đua Scuderia Ferrari.

Cuộc đua đầu tiên được diễn ra ở Turin vào năm 1948, Ferrara đã giành chiến thắng ở giải đua Lago di Garda vào cuối năm đó. Ferrari tham gia vào giải đua Công thức 1 kể từ khi nó được ra mắt vào năm 1950. Ông đã giành chiến thắng lần đầu tiên tại Grand Prix cùng với tay đua José Froilán González ở Silverstone vào năm 1951. Chức vô địch lần đầu tiên của ông được lập năm 1952-1953 cùng với tay đua Alberto Ascari. Công ty cũng sản xuất và bán những chiếc xe thể thao theo đơn đăt hàng để lấy nguồn vốn đầu tư cho các giải đua không chỉ ở Grands Prix mà ở các giải đua khác như Mille Miglia và Le Mans.

Ferrari quyết định tiếp tục đua ở giải Mille Miglia và đội đua đã giành được những thắng lợi mới. Công chúng biết tới những chiếc xe mang thương hiệu Ferrari ngày càng đông đảo hơn. Tuy nhiên, các xe đua với tốc độ ngày càng tăng còn chất lượng đường đua không tốt đã làm nên thảm họa cho đội đua Ferrari và cả giải đua. Năm 1957 tại Mille Miglia, gần thị trấn Guidizzolo, chiếc Ferrari 335 S dung tích 4.0L được điều khiển bởi tay đua Alfonso de Portago. Khi đang ở vị trí thứ 3, đồng hồ tốc độ chỉ 250 km/h thì chiếc xe bị nổ lốp và đâm vào đám đông đang cổ vũ bên đường. Kết quả, tay đua Alfonso de Portago, phụ lái và cùng với 9 khán giả, trong đó có 5 trẻ em đã chết trong tai nạn. Sau đó, Enzo Ferrari và Englebert; nhà sản xuất lốp xe bị khởi tố và bị buộc tội ngộ sát, vụ việc kéo dài đến năm 1961 và cuối cùng đã được bát bỏ. Chiếc Ferrari 335 S sau đó đã giành chiến thắng tại Venezuelan Grand Prix, được điều khiển bởi tay đua Peter Collins và Phil Hill.

Ngoài giải đua Công thức 1, Ferrari cũng tham gia vào phân khúc đua xe thể thao, hai dự án cho 2 giải đua cùng tồn tại song song trong nhiều năm. Đội đua Scuderia Ferrari đã giành chiến thắng tại đường đua Công thức 1 những năm 1950 và 1960. Các tay đua đã lập công là Juan Manuel Fangio (1956), Mike Hawthorn (1958), Phil Hill (1961) và John Surtees (1964).

Năm 1949, Luigi Chinetti và Lord Selsdon lái chiếc 166 MM đã giành chiến thắng đầu tiên cho đội Ferrari ở giải đua 24 Hours of Le Mans với quảng đường 3.178 km và đạt tốc độ trung bình là 132 km/h. Ferrari tiếp tục thống trị đường đua những năm đầu của giải vô địch thế giới phân khúc xe thể thao được ra mắt vào năm 1953. Ferrari đã giành danh hiệu này 7 lần trong 9 năm đầu tiên của giải đua.

Khi điều lệ về chức vô địch thay đổi năm 1962, Ferrari giành được ít nhất một danh hiệu vào mỗi năm cho đến năm 1965 và sau đó một lần nữa vào năm 1967. Ferrari giành được danh hiệu vô địch thế giới lần cuối cùng vào năm 1972 bởi tay đua Makes, trước khi quyết định rời khỏi phân khúc đua xe thể thao sau năm 1973 và cho phép đội đua Scuderia Ferrari tập trung hoàn toàn vào giải đua Công thức 1.Động cơ V12 với dung tích 2.0L của Ferrari 166 MM.

Mặc dù Ferrari không còn tham gia vào giải đua xe thể thao sau năm 1973 nhưng hãng cũng phát triển thành công nhiều mẫu xe thể thao cho các tay đua cá nhân. Gồm các mẫu nổi tiếng như; Ferrari 512 BB LM trong những năm 1970, Ferrari 333 SP giành dược chức Vô địch IMSA GT những năm 1990 và hiện tại là Ferrari F430 GT2 và GT3 đang giành chức vô địch ở phân hạng của nó.

(Còn tiếp)